Bướu lành tiền liệt tuyến

Bướu lành tiền liệt tuyến (còn được gọi tắt là BPH theo tiếng Anh), phì đại nhiếp tuyến hay phì đại lành tính tuyến tiền liệt là một sự tăng kích thước của tuyến tiền liệt ở nam giới trung niên và cao niên. Trong u xơ tiền liệt tuyến, tuyến tiền liệt tăng kích thước và ép vào niệu đạo và bàng quang, gây khó khăn cho tiểu tiện. Nó gây nên triệu chứng tiểu ngập ngừng, tiểu nhiều lần, tăng nguy cơ nhiễm trùng tiết niệu và tiểu khó. Có rất ít mối liên hệ giữa các triệu chứng của u xơ tiền liệt tuyến với ung thư tuyến tiền liệt.

Giải phẫu học

Là một cơ quan tuyến của hệ tiết niệu sinh dục nam. Nó nằm trước trực tràng và phần xa của bàng quang. Nó liên tục với hệ  tiết niệu, và nối trực tiếp với niệu đạo dương vật. Vì vậy nó là một phần nối giữa bàng quang và niệu đạo.

Normal prostate anatomy. The prostate is located a
Tiền liệt tuyến, dưới bàng quang và ôm xung quanh niệu đạo

Tuyến này có vài vùng hay thùy được bao bọc bên ngoài bằng vỏ bao.  Những vùng này bao gồm, vùng ngoại vi, trung tâm, mô đệm sợi và cơ phía trước, và vùng chuyển tiếp. Phì đại tiền liệt tuyến từ vùng chuyển tiếp bao xung quanh niệu đạo.

Triệu chứng

Tiểu ngập ngừng, cảm giác tiểu không hết, tiểu nhiều lần, số lượng nước tiểu mỗi lần ít là những triệu chứng gợi ý cho bệnh u xơ tiền liệt tuyến ở đàn ông trung niên và cao niên. Vì tiểu không hết, có sự tắc đọng vi khuẩn trong bàng quang làm tăng nguy cơ nhiễm trùng tiết niệu.
Một số bệnh nhân bị tiểu khó, trong đó lượng nước tiểu không thoát đủ và bàng quang bị căng phồng. Nếu không chữa, nó có thể dẫn đến suy chức năng thận và thận ứ nước.

Chẩn đoán

Thăm trực tràng (sờ tuyến tiền liệt qua trực tràng) có thể phát hiện tuyến tiền liệt khi đã to đáng kể. Phương pháp này phụ thuộc vào kỹ năng bác sĩ.

Cac xét nghiệm

Thử tổng phân tích nước tiểu: thử que hay quay ly tâm nước tiểu , tìm máu, bách cầu, vi trùng, đạm hay đường trong nước tiểu.

Cấy nước tiểu để loại trừ những triệu chứng kích thích đi tiểu là do nhiễm trùng tiểu.

Thử PSA, mặc dù bướu lành không chuyển sang ung thư, những cũng có khi kết hợp, do đó nên làm xét nghiệm để tầm soát. Hội chống ung thư Hoa kỳ năm 2010 khuyên nên làm ở những lứa tuổi sau đây:

  • Bắt đầu từ năm 50 tuổi ở những người đàn ông có thể sống hơn 10 năm nữa.
  • Từ 45 tuổi nếu thuộc nhóm nguy cơ cao như ( người gốc Phi hay có người trong gia đình bị ung thư )
  • Từ 40 tuổi nêu trong gia đình có nhiều người bị ung thư tiền liệt tuyến.

Làm các xét nghiệm BUN, creatinin , điện giải để đánh giá chức năng thận, đặc biệt làm ở những người có nước tiểu tồn lưu cao.

Siêu âm bụng để đánh giá thận xem có ứ nước, hay kích thước tiền liệt tuyến. Siêu âm qua ngã trực tràng sử dụng trong vài bệnh nhân, đặc biệt những người có PSA cao.

Dịch tể học

Tại Việt Nam hiện nay có tới 45% đến 70% số nam giới trong độ tuổi từ 45 đến 75 mắc căn bệnh này. Phần lớn trong số đó đã phải trải qua phẫu thuật ít nhất là một lần. Điều này gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe và sinh hoạt của người bệnh.
Tại Hoa Kỳ, hơn một nửa đàn ông độ tuổi từ 60 đến 70 và khoảng 90 phần trăm ở độ tuổi từ 70 đến 90 có triệu chứng của u xơ tiền liệt tuyến. Một số trong đó có triệu chứng nặng đến mức cần điều trị.

Điều trị

Khi bệnh nhân có triệu chứng nhẹ ( IPSS/AUA-SI score < 7) hay có triệu chứng từ nhẹ đến nặng ( >8) mà không thấy phiền phức vì những triệu chứng đó và chưa có biến chứng có thể điều trị bằng phương pháp chỉ là theo dõi. Trong những trường hợp này không có lợi khi cho thuốc, vì thuốc cũng có tác dụng phụ. Khi theo dõi thì cũng nên tái khám lại hàng năm.
Nếu bướu lành và bệnh nhân ngại mổ, có thể điều trị bằng thuốc ức chế thụ thể alpha-adrenergic, ví dụ alfuzosin (Xatral), terazosin (Hytrin), doxazosin, prazosin và tamsulosin. Triệu chứng của bướu lành là do thành phần cơ bị căng lên trong tiền liệt tuyến, niệu đạo và bàng quang, mà có thể điều hòa bằng thụ thể anpha, mà cụ thể là anpha 1a. Khi điều trị với thuốc này có thể cải thiện 4-6 điểm IPSS/AUA-SI , tuy nhiên không giảm được nguy cơ bí tiểu hay phải phẫu thuật.
Một số kháng androgen như ức chế men 5-alpha-reductase (finasteride (Proscar) và dutasteride) thường được dùng phối hợp với thuốc trên để làm giảm triệu chứng. Các thuốc ức chế alpha-adrenergic không làm “tiêu” bướu mà chỉ giúp tiểu dễ do cổ bàng quang và niệu đạo dễ mở rộng khi đi tiểu. Thuốc này cũng làm giãn một số cơ vòng khác trong cơ thể và gây tác dụng phụ như giảm huyết áp. Chưa có thuốc nào được chứng minh là làm bướu nhỏ đi. Thuốc có hiệu quả với bướu to một hay hai thuỳ bên, chứ ít tác dụng với bướu thùy giữa.
Nếu việc điều trị nội khoa không đạt hiệu quả, phẫu thuật bóc tiền liệt tuyến qua niệu đạo (TURP) có thể cần thực hiện, kỹ thuật này từ lâu được xem là tiêu chuẩn vàng trog điều trị. Kỹ thuật này cắt bỏ một phần tiền liệt tuyến, thông qua niệu đạo. giải quyết được ngay những triệu chứng tắc nghẽn.
Có nhiều phương pháp mới để giảm kích thước tiền liệt tuyến, một số chưa được thử nghiệm đủ lâu để đảm bảo độ an toàn và biết hết các tác dụng phụ. Các phương pháp này phá hủy các mô thừa mà không ảnh hưởng đến tổ chức còn lại. Một số phương pháp nữa có thể kể ra là “bốc bay tổ chức tuyến tiền liệt qua niệu đạo” (TVP), mổ TURP bằng laser, cắt bằng laser (VLAP), liệu pháp nhiệt vi sóng qua niệu đạo (TUMT), tiêm ethanol (tiêm cồn tuyệt đối).
Bệnh được phát hiện càng sớm thì điều trị càng có cơ hội hiệu quả hơn.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

error: làm ơn đừng chép!