NANG CHỨA TINH TRÙNG (spermatocele)

Nang chứa tinh trùng mào tinh là sự tích tụ tinh trùng lành tính ở vị trí đầu mào tinh. Mặc dù gây lo lăng rất nhiều cho bệnh nhân nhưng bệnh này là lành tính. Nang này có thể có vị trí khác nhau, từ mào tinh cho tới dọc theo đường đi của ống dẫn tinh. Tuy nhiên, từ ngữ thông thường thì nang này nằm trong bìu, cạnh tinh hoàn có nguồn gốc từ mào tinh hoàn.
Nang có tính chất nhẵn, tròn, giới hạn rõ, thông thường được mô tả đây là một khối ở bìu. Chẩn đoán phân biệt là tràn dịch tinh mạc, dãn tĩnh mạch thừng tinh, thoát vị, nang mào tinh đơn giản và ung thư. Hỏi bệnh sử, khám lâm sàng và siêu âm bìu giúp chẩn đoán phân biệt.
Nang này thường có nguồn gốc từ đầu của mào tinh, nằm cực trên của tinh hoàn. Khác với tràn dịch tinh mạc, dịch thường có ở phía bên và trước của tinh hoàn. Dãn tĩnh mạch tinh là tĩnh mạch dãn dọc theo thừng tinh. Thoát vị bẹn là do còn ống phúc tinh mạc làm cho thành phần trong bụng có thể xuống bìu. Khác với nang mào tinh, thoát vị bẹn và dãn tĩnh mạch tinh sẽ to lên khi làm tăng áp lực trong ổ bụng Valsava. Nang chứa tinh trùng khác vớinang mào tinh thông thường mà chỉ chứa dịch, nang chứa tinh trùng chứa đầy tinh trùng. 
Từ ngữ tiếng anh là spermatocele có nguồn gốc từ Hy lạp, spermatos có nghĩa là tinh trùng, kele là hang hay khối. Được biết đến hơn 100 năm qua.    
Khối này thường nhỏ hơn 1 cm, ít gặp hơn khối này lớn vài cm. Gây đau và khó chịu ở bìu, có thể là yếu tố thuận lợi gây xoắn tinh hoàn.

Dịch tể học

Gặp trong 30% bệnh nhân đi siêu âm bìu vì những lý do khác nhau. Tỷ lệ chính xác vẫn chưa biết rõ.  

Nguyên nhân. Vẫn chưa biết rõ. Có rất nhiều nguyên nhân được đề nghị, không nguyên nhân nào được chấp nhận rộng rãi. Nguyên nhân nghi ngờ là do dãn các ống mào tinh, nguyên nhân do tắc nghẽn ống.

Sinh lý bệnh học

Mặc dù nghi ngờ là do nguyên nhân tắc nghẽn, nhưng trong nang này tinh trùng còn sống tới 80% vì vậy có thể không có sự tắc nghẽn của ống dẫn tinh.

Biểu hiện lâm sàng

Thông thường thì không có triệu chứng. Bệnh nhân thường phát hiện qua quá trình tự khám bìu hay khám sức khỏe thường qui. Vị trí thường đầu mào tinh, cực trên của tinh hoàn. Nang có tính chất mềm, tròn, thấu quang. Nếu không thấu quang thì đó là cấu trúc đặc chứ không phải nang, cần đánh giá kỹ hơn, gồm siêu âm bìu hay mổ thám sát. 

Chỉ định

Không nên mổ trong trường hợp nang phát hiện tình cơ và không có triệu chứng. Tuy nhiên, nếu có khó chịu, đau, hay lớn dần dần lên gây phiền toái cho bệnh nhân thì có thể phẫu thuật cắt bỏ sinh thiết. 

Giải phẫu liên quan

A sagittal section of the testicle. Idiopathic obs
Hình ảnh cắt dọc của tinh hoàn và mào tinh

Diagram of a spermatocele.
Nang chứa tinh trùng
Spermatocele as seen prior to incision.
Nang  trước khi mổ
Intraoperative view of spermatocele with adjacent
Nang chứa tinh trùng

Chống chỉ định

Hút thử bằng kim nang là chống chỉ định, vì có thể gây nhiễm trùng, tràn tinh trùng vào trong bìu gây kích thích bìu, và sẽ tái phát. Phẫu thuật cắt nang dành cho bệnh nhân có triệu chứng. Phẫu thuật chích xơ là chống chỉ định ở nam giới còn trong độ tuổi sinh sản vì nguy cơ viêm mào tinh hoàn do hóa chất có thể gây hoại tử mào tinh, góp phần làm vô sinh. 

Cận lâm sàng

Không có xét nghiệm nào là đặc hiệu cho chẩn đoán
Hình ảnh học là siêu âm bìu. Mặc dù vài bác sĩ có thể chẩn đoán thông qua hỏi bệnh sử, khám lâm sàng. Siêu âm chỉ à phương tiện khẳng định lại chẩn đoán và loại trừ những bệnh lý khác trong bìu. 
Nang chứa tinh trùng như đã nói thường gặp ở mào tinh, tuy nhiên cũng có nang trong tinh hoàn cận kề với trung thất của tinh hoàn. Nang thường có hình ảnh echo kém với vùng tăng âm phía sau nên phân biệt nang mào tinh hoàn đơn thuần nhơ vào cấu trúc bên trong. 
Giải phẫu bệnh, thành nang là mô cơ xơ lót bởi biểu mô hình khối lập phương.

Điều trị

Điều trị nội khoa

Không có điều trị nội khoa đặc hiệu trừ khi bệnh nhân đau thì dùng thuốc giảm đau đường uống. Nếu có nguyên nhân do viêm mào tinh hoàn có thể sử dụng kháng sinh. Đối với nang nhỏ không triệu chứng thì chỉ theo dõi.

Điều trị ngoại khoa

Cắt nang Qua ngã bìu là phẫu thuật lựa chọn đầu tiên.

Chích xơ Cũng là phương pháp lựa chọn thay thế cho phẫu thuật, cũng rất hiệu quả. Áo dụng cho những bệnh nhân không muốn có con nữa vì nguy cơ viêm mào tinh hoàn do hóa chất và hoại tự mào tinh gây vô sinh. Hút bằng kim thường gây ra tái phát rất cao, chất gây xơ có thể làm cho các thành dính với nhau như tetracycline, fibrin glue, phenol, và sodium tetradecyl sulfate, quinine, bột talc, polidocanol,[2]  và ethanolamine oleate, tất cả đạt tỷ lệ thành công 30%-100%. Không có nghiên cứu so sánh cái nào tốt hơn cái nào.[3]

Tiền phẫu

Phẫu thuật cắt nang: Phẫu thuật cắt nang thực hiện cho bệnh nhân ngoại trú, gây tê tại chỗ hay gây tê toàn thân tùy vào sự lựa chọn của bệnh nhân, thầy thuốc và bác sĩ gây mê. Bệnh nhân phải được tư vấn các biến chứng  như là nguy cơ vô sinh, máu tụ trong bìu, nhiễm trùng, sưng bìu, tái phát và đau.[4]

Phẫu thuật chích xơ: Cũng thực hiện ngoại trú được. Thuốc mê có thể cho vị trí chích kim trước khi chích xơ hay trong khi chích xơ. 

Trong lúc mổ

Phẫu thuật cắt nang: Trãi khăn mổ vô trùng xung quanh bìu. Thêm vào khăn cuộn lại đặt dưới bìu để nâng bìu lên vào trường mổ. Đường mổ rạch da bìu có thể thực hiện ằng đường dọc giữa hai bìu hay bằng đường rạch ngang 1 bên bìu. Bóc tách cho tới lớp tunica vaginalis bằng dao điện. Tinh hoàn, mào tinh và nang được bộc lộ lên bằng cách bóc tách tù bằng tay nhẹ nhàng, sao cho lớp tunica còn nguyên. Cô lập nang, thông thường sẽ tìm thấy cổ nang, tiến hành cột cổ nang bằng chỉ tan 3-0, sau đó cắt. Nếu nang nhiều thùy hay nang lớn không thể nào tấy cổ, lý tưởng là không làm bể nang vì sẽ gây kích thích bìu, tách dần nang khỏi mô bình thường, bóc tách cắt lọc cho tới khi thấy mô bình thường, điều này sẽ khó. Nguy cơ tràn tinh trùng xung quanh, nếu bóc tách nhiều thì nguy cơ vô sinh do tắc mào tinh.     

Sau khi tách được nang tiến hành cầm máu cẩn thận vì nguy cơ tụ máu bìu rất lớn. Sau khi cầm máu tiến hành khâu lại lớp tunica và dartos với chỉ 2-0 và 3-0 bằng chỉ khâu liên tục. Khâu da bằng chỉ tan 3-0 mũi rời hay liên tục.

Chích xơ: Sát trùng bìu và trải khăn lỗ. Chọc vào da bìu tại vị trí gần nhất bằng kim cannula tĩnh mạch số 16. Siêu âm hướng dẫn. Nếu nang có nhiều vách, siêu âm hướng dẫn đảm bảo tất cả các nang được hút sạch. Tay kia giúp ích cho tống xuất hết chất dịch ra dễ dàng. Chất gây xơ được bơm vào cannula, lượng bơm vào phụ thuộc vào lượng hút ra.    

Emedicine Medscape Urology
———————————————————————————————–

  1. Sista AK, Filly RA. Color Doppler sonography in evaluation of spermatoceles: the “falling snow” sign. J Ultrasound Med. Jan 2008;27(1):141-3.
  2. Jahnson S, Sandblom D, Holmäng S. A randomized trial comparing 2 doses of polidocanol sclerotherapy for hydrocele or spermatocele. J Urol. Oct 2011;186(4):1319-23.
  3. East JM, DuQuesnay D. Sclerotherapy of idiopathic hydroceles and epididymal cysts: a historical comparison trial of 5% phenol versus tetracycline. West Indian Med J. Dec 2007;56(6):520-5.
  4. Kauffman EC, Kim HH, Tanrikut C, Goldstein M. Microsurgical spermatocelectomy: technique and outcomes of a novel surgical approach. J Urol. Jan 2011;185(1):238-42.
  5. Davis RS. Intratesticular spermatocele. Urology. May 1998;51(5A Suppl):167-9.
  6. Gray CL, Powell CR, Amling CL. Outcomes for surgical management of orchalgia in patients with identifiable intrascrotal lesions. Eur Urol. Apr 2001;39(4):455-9.
  7. Gutman H, Golimbu M, Subramanyam BR. Diagnostic ultrasound of scrotum. Urology. Jan 1986;27(1):72-5.
  8. Itoh M, Li XQ, Miyamoto K. Degeneration of the seminiferous epithelium with ageing is a cause of spermatoceles?. Int J Androl. Apr 1999;22(2):91-6.
  9. Moloney GE. Comparison of results of treatment of hydrocele and epididymal cysts by surgery and injection. Br Med J. Aug 23 1975;3(5981):478-9.
  10. Nash JR. Sclerotherapy for hydrocele and epididymal cysts: a five-year study. Br Med J (Clin Res Ed). Jun 2 1984;288(6431):1652.
  11. Nashan D, Behre HM, Grunert JH. Diagnostic value of scrotal sonography in infertile men: report on 658 cases. Andrologia. Sep-Oct 1990;22(5):387-95.
  12. Rubenstein RA, Dogra VS, Seftel AD, Resnick MI. Benign intrascrotal lesions. J Urol. May 2004;171(5):1765-72.
  13. Tammela TL, Hellstrom PA, Mattila SI. Ethanolamine oleate sclerotherapy for hydroceles and spermatoceles: a survey of 158 patients with ultrasound followup. J Urol. Jun 1992;147(6):1551-3.
  14. Walsh TJ, Seeger KT, Turek PJ. Spermatoceles in adults: when does size matter?. Arch Androl. Nov-Dec 2007;53(6):345-8.
  15. Zahalsky MP, Berman AJ, Nagler HM. Evaluating the risk of epididymal injury during hydrocelectomy and spermatocelectomy. J Urol. Jun 2004;171(6 Pt 1):2291-2.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

error: làm ơn đừng chép!