Bệnh viêm quy đầu

Viêm qui đầu (tiếng Anh: Balanitis) là viêm qui đầu dương vật. Khi bao qui đầu (hoặc da qui đầu) cũng bị ảnh hưởng, nó được gọi là viêm qui đầu – da qui đầu ( balanoposthitis). Phải phân biệt tình trạng đỏ da qui đầu thấy ở các bé trai do viêm da amoniac viêm qui đầu khi bé mang tã.

Nguyên nhân và dịch tể : Tình trạng viêm có nhiều nguyên nhân có thể, bao gồm cả kích thích bởi chất môi trường, chấn thương thể chất, và nhiễm trùng bởi một loạt các tác nhân gây bệnh, bao gồm cả vi khuẩn, virus, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, hay nấm, mỗi trong số đó đòi hỏi một phương pháp điều trị cụ thể.

O’Farrell và cộng sự (cs) báo cáo rằng, bệnh thường gặp ở nam giới chưa cắt bao quy đầu mà không tuột da lên để rửa thường xuyên. Birley và cs, tuy nhiên, rửa bộ phận sinh dục quá nhiều với xà phòng có thể là một yếu tố góp phần mạnh mẽ để viêm qui đầu. Tiểu đường có nhiều khả năng có thể làm cho viêm qui đầu, đặc biệt là nếu lượng đường trong máu khó kiểm soát.

Trong một nghiên cứu của Fergusson và cs, viêm dương vật đã được báo cáo trong 7,6 trường hợp trên 100 bé trai đã cắt bao quy đầu, và 14,4 trường hợp trên 100 bé trai chưa cắt bao quy đầu. Herzog và Alvarez  báo cáo rằng, trong nghiên cứu của họ, “viêm qui đầu (6% so với 3%) và kích ứng (4% so với 1%) thường gặp hơn trong số các trẻ em không cắt bao quy đầu, nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê”. Van Howe phát hiện ra rằng các bé trai đã cắt bao qui đầu nên theo dõi kỹ hơn các bé trai không cắt bao quy đầu. Trong nghiên cứu của Wilson, tất cả 22 trường hợp viêm qui đầu nằm trong số những người đàn ông không cắt bao quy đầu. Tuy nhiên, số lượng các trường hợp là “quá nhỏ để có ý nghĩa.”

Trong một nghiên cứu hồi cứu 28 trường hợp viêm qui đầu chuỗi hạt, Taylor và Rodin đã tìm thấy tình trạng này phổ biến hơn ở nam giới không cắt bao quy đầu. Trong một nghiên cứu đánh giá các tác động của môi trường chiến tranh về sức khỏe tình dục, Hart báo cáo rằng viêm qui đầu “gần như hoàn toàn giới hạn trong không cắt bao quy đầu.” Trong một nghiên cứu cắt ngang 398 bệnh nhân, Fakjian và cs. báo cáo rằng viêm qui đầu được chẩn đoán 12,5% của nam giới không cắt bao quy đầu và 2,3% của nam giới cắt bao quy đầu. Trong một nghiên cứu của 225 người đàn ông, O’Farrell và cs, thấy rằng nam giới được cắt da qui đầu thường ít viêm qui đầu hơn so với những người đàn ông không cắt bao quy đầu. Trong nghiên cứu Mallon của 357 bệnh nhân với các bệnh da ở bộ phận sinh dục và 305 nhóm chứng, hầu hết các trường hợp bệnh da viêm dương vật (và tất cả các bệnh nhân với viêm qui đầu-da qui đầu không đặc hiệu) đã được cắt da qui đầu.

Tần suất xuất hiện: Theo Leber, viêm qui đầu “là một tình trạng phổ biến ảnh hưởng đến 11% nam giới trưởng thành đến khám phòng khám tiết niệu và 3% trẻ em ở Hoa Kỳ. Thế giới thì có thể xảy ra trong lên đến 3% nam giới không cắt bao quy đầu.”

Escala và Rickwood, trong một cuộc kiểm tra năm 1989,100 trường hợp viêm qui đầu trong thời thơ ấu, kết luận rằng nguy cơ “trong bất cứ cá nhân nào, không cắt bao quy đầu cho trẻ, là không quá 4%”. Oster báo cáo không có viêm qui đầu trong 9545 nam giới không cắt bao quy đầu Đan Mạch.

Chẩn đoán

Hỏi bệnh sử chú ý đến yếu tố nguyên nhân, cấy dịch, thậm chí sinh thiết tổn thương để chẩn đoán.

Triệu chứng thường bắt đầu xuất hiện sau 3 ngày sau gồm

  • Dấu hiệu đầu tiên – lở loét nhỏ màu đỏ trên qui đầu
  • Đỏ bao quy đầu
  • Đỏ dương vật
  • Phát ban trên đầu của dương vật
  • Mùi hôi xả
  • Đau bao quy đầu và dương vật

Chẩn đoán phân biệt

  • Bệnh Bowen – ung thư tế bào vảy
  • Nấm candidiasis da
  • Viêm da tiếp xúc, kích thích
  • Erythroplasia of Queyrat (Bệnh Bowen của qui đầu)
  • Intertrigo
  • Lichen Sclerosus et Atrophicus

Biến chứng của viêm qui đầu tái phát có thể gây ra sẹo lỗ niệu đạo; giảm tính đàn hồi có thể dẫn đến hẹp da qui đầu bệnh lý.

Viêm qui đầu kiểu Zoon cũng được biết đến như Balanitis Circumscripta Plasmacellularis hoặc viêm qui đầu plasma tế bào (PCB), tự phát hiếm, là bệnh da dương vật lành tính [21] điều trị thường là cắt da qui đầu. Hoặc điều trị bằng laser CO2, hơn nữa gần đây Albertini và cs báo điều trị bằng laser YAG. Một nghiên cứu, bởi Retamar và các đồng nghiệp, tìm thấy 40% những người được điều trị bằng laser CO2 có tái phát.

Circinate balantitis (còn được gọi là balanitis circinata) là một viêm da serpiginous hình khuyên liên quan đến hội chứng Reiter.

Pseudoepitheliomatous keratotic và micaceous balanitis

Điều trị

Điều trị tại chỗ thường được lựa chọn, thuốc bôi có tác dụng chống lại tác nhân gây bệnh và kháng viêm.

Kháng nấm

Clotrimazole (Lotrimin, Mycelex, Femizole-7, Gyne-Lotrimin) đây là loại kháng nấm phổ rộng sử dụng cho các bệnh ngoài da. ức chế nâm phát triễn bởi cơ chế thay đổi tính thấm màng tế bào. Đánh giá lại sau 4 tuần lễ điều trị. Thường sử dụng kem 1%.

Kháng khuẩn

Metronidazole (1% Noritate cream, 0.75% MetroGel cream hoặc lotion) có khả năng ức chế nấm, protozoa, và vi khuẩn kị khí. Có tác dụng kháng viêm vì thay đổi hoạt động của bạch cầu.

Theo dõi và phòng ngừa Theo dõi bằng cách vệ sinh thường xuyên là chủ yếu

Nến thực hiện cắt da qui đầu nếu phương pháp vệ sinh được thực hiện tốt mà bệnh nhân vẫn bị tái phát.

Tiên lượng Nếu sử dụng đúng cách thì bệnh sẽ khỏi một cách ngoạn mục. Nhưng trong vài trường hợp phải sinh thiết để loại trừ bệnh lý ác tính phối hợp. Bệnh ác tính thường gặp là đỏ da dạng Queyrat, mặc dù cũng có thể có bệnh Bowen xen lẫn.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

error: làm ơn đừng chép!